Rừng là tài sản quý giá của quốc gia, là “lá phổi xanh” của cuộc sống, đồng thời giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, để giữ được những cánh rừng xanh không chỉ cần sự vào cuộc của các cơ quan quản lý nhà nước, chủ rừng và lực lượng Kiểm lâm, mà còn cần sự chung tay, đồng hành của chính những người dân đang sinh sống gần rừng, gắn bó với rừng. Trong thực tiễn đó, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã và đang trở thành một trong những giải pháp quan trọng, góp phần tạo sinh kế, nâng cao đời sống và khuyến khích người dân tích cực tham gia bảo vệ rừng.
Thời gian qua, nguồn tiền từ dịch vụ môi trường rừng đã góp phần tạo thêm thu nhập cho các hộ gia đình, cộng đồng dân cư nhận khoán bảo vệ rừng. Đối với nhiều hộ dân sống gần rừng, khoản thu nhập từ nhận khoán không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn là sự ghi nhận đối với công sức bỏ ra để giữ rừng. Từ đó, người dân ngày càng nhận thức rõ hơn rằng bảo vệ rừng không chỉ là trách nhiệm mà còn gắn với quyền lợi thiết thực của chính mình và cộng đồng.

Hình ảnh: Cộng đồng nhận khoán tuần tra rừng trên diện tích nhận khoán
Điều đáng ghi nhận là từ khi thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, mối quan hệ giữa người dân – chủ rừng – lực lượng Kiểm lâm trong công tác quản lý, bảo vệ rừng ngày càng được tăng cường. Những hộ nhận khoán bảo vệ rừng trở thành những “cánh tay nối dài” ngay tại cơ sở. Họ thường xuyên có mặt trên địa bàn, nắm bắt tình hình rừng, kịp thời phát hiện những dấu hiệu bất thường như phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật hoặc các nguy cơ cháy rừng để thông tin cho chủ rừng và lực lượng chức năng xử lý.

Hình ảnh: Lực lượng Kiểm lâm cùng cộng đồng nhận khoán tuần tra bảo vệ rừng
Trong công tác tuần tra, kiểm tra rừng, lưc lượng chủ rừng, lực lượng Kiểm lâm không thể có mặt thường xuyên tại mọi khu vực, mọi thời điểm. Vì vậy, sự tham gia của các hộ nhận khoán có ý nghĩa rất thiết thực. Một tin báo kịp thời, một lần tuần tra đúng lúc hay một hành động kiên quyết không tiếp tay cho hành vi vi phạm có thể góp phần ngăn chặn một vụ phá rừng, hạn chế thiệt hại đối với tài nguyên rừng.
Có thể nói, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng đã tạo ra một mối liên kết có ý nghĩa: rừng được bảo vệ tốt hơn thì cộng đồng được hưởng lợi; người dân có thêm sinh kế thì càng có động lực giữ rừng; lực lượng Kiểm lâm và chủ rừng có thêm lực lượng phối hợp ngay tại cơ sở. Đây chính là giá trị thiết thực và lâu dài của chính sách.

Trạm Kiểm lâm Phước Sơn họp đánh giá công tác hàng tháng tổ cộng đồng nhận khoán
Tuy nhiên, để chính sách tiếp tục phát huy hiệu quả, cần quan tâm hơn nữa đến việc bảo đảm nguồn chi trả đúng đối tượng, kịp thời, công khai, minh bạch; đồng thời tăng cường hướng dẫn kỹ thuật, nâng cao năng lực tuần tra, bảo vệ rừng cho các hộ nhận khoán. Cùng với đó, cần nghiên cứu kết hợp nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng với các mô hình sinh kế phù hợp, giúp người dân từng bước nâng cao thu nhập, giảm áp lực khai thác tài nguyên rừng.
Bảo vệ rừng là một hành trình lâu dài, cần sự chung sức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Mỗi cán bộ Kiểm lâm, mỗi chủ rừng và mỗi người dân nhận khoán bảo vệ rừng đều có một phần trách nhiệm trong hành trình ấy.

Hạt Kiểm lâm Đạ Huoai tổ chức tuyên truyền công tác QLBVR và PCCCR
Chi trả dịch vụ môi trường rừng không chỉ là một chính sách kinh tế, mà còn là chính sách nhân văn, biến trách nhiệm bảo vệ rừng thành động lực, người dân sống gần rừng thành những người đồng hành tích cực trong giữ gìn tài nguyên thiên nhiên. Khi người dân có sinh kế từ rừng và thấy rõ giá trị của rừng, thì màu xanh của rừng sẽ được gìn giữ bền vững hơn – hôm nay và cho cả những thế hệ mai sau.
Nguồn tin: Hạt Kiểm lâm Đạ Huoai